Những
hàm lượng khoáng chất trong cơ thể (vi lượng, mineralien) đóng một vai
trò cực kỳ quan trọng cho sự sống. Nó chính là những nguyên tố mang
lại tính chất bền vững và lâu dài cho sự sống. Các nguyên tố như
Calcium, Natrium, Phospho, Kalium, Mangen, Magnenium, Chlor... nằm ở
dạng các loại hợp chất trong cơ thể, khi thiêu đốt xác chết thì các
loại vi lượng đó vẫn còn lại và không thiêu hủy, người ta gọi là Tro
Khoáng Chất. Khi thiêu cháy xác người, người ta luôn luôn thu được 12
loại tro, đó là các loại: 1/ Calcium phosphoricum, 2/ Calciumflouratum,
3/ Ferumphosphoricum, 4/ Kaliumphosphoricum, 5/ Kaliumchloratum, 6/
Kaliumsulfuricum, 7/ Magneniumphosphoricum, 8/ Natriumchloratum, 9/
Natriumphosphoricum, 10/ Natriumsulfuricum, 11/ Silicea và 12/
Calciumsulfuricum.
Tất cả các tài liệu Y khoa khẳng định hầu hết các bệnh tật liên quan
đến chức năng hoạt động của cơ thể đều có nguyên nhân từ việc thiếu hụt
hay quá dư thừa các nguyên tố vi lượng này, nhất là các bệnh về tim
mạch, gân xương, thần kinh và sức đề kháng.
Cơ thể thu nạp bổ
sung các nguyên tố vi luợng này thông qua con đường ăn uống và tiêu hóa
(Đông Y gọi là khí Hậu Thiên tích nạp từ Ngũ Cốc). Điều này khẳng định
một mệnh đề trong y lý cổ truyền là: "Bệnh tòng khẩu nhập, tất bệnh từ
khẩu xuất". Bệnh từ cái miệng mà vào (ăn uống) thì tất nhiên từ ăn
uống mà đưa bệnh đi ra.
Ngày nay ở các nước phát triển người
ta cực kỳ chú trọng đến phương pháp chữa bệnh từ các loại Vi lượng
này. Nguời ta thử nghiệm, đo đạc và kiểm tra xác định các loại vi lượng
bị thiếu từ đó xảy ra bệnh gì, và kịp thời bổ sung ngay vi luợng thiếu
hụt đó để trị bệnh. Bạn đến bất kỳ một hiệu thuốc nào trên châu Âu cũng
đều có 12 loại Vi luợng đúng như 12 loại tro cơ bản ấy, Có đánh số thứ
tự từ 1 đến 12 như tôi đã trình bày trên. Sự thiếu hụt các loại vi
lượng đó của cơ thể có nguyên nhân cơ bản nhất là do ăn uống không đúng
cách (thiếu chất).
Thứ Năm, 29 tháng 5, 2014
VIỆC THỞ QUAN TRỌNG THẾ NÀO
Bạn nên biết những thông tin quan trọng này về cơ thể của con người:
Trọng lượng trung bình:....................... 70 kg
Thể tích:.......................................... 80 lít
Trong đó:
Ôxy chiếm....................................... 41,1 kg
Cacbon .......................................... 14 kg
Hydro............................................. 7 kg
Nitơ................................................ 2,1 kg
Calcium........................................... 1 kg
Phosphor........................................ 0,7 kg
Kalium........................................... 0,17 kg
Lưu huỳnh...................................... 0,14 kg
Chlor............................................. 70 g
Natrium.......................................... 70 g
Magnesium..................................... 30 g
Sắt................................................ 3 g
Đồng............................................. 300mg
Mangan.......................................... 100mg
I-ốt................................................ 30mg
Máu có khoảng 5-6 lit, chiếm 6-8% trọng luợng cơ thể.
Chiều dài toàn bộ mạch máu khoảng 150.000 km tức là 150 triệu mét. (Một con số khủng khiếp tức là dài gấp hơn 12 lần đường kính Trái Đất).
Tổng bề mặt của hồng huyết cầu có diện tích vào khoảng 4000 m vuông, và cứ 120 ngày thì đổi mới hoàn toàn.
Chiều dài của ruột khoảng 8 m, tổng diện tích bề mặt là 400 m vuông.
Tổng diện tích bề mặt làm việc của phổi khoảng vào 80 m vuông.
Tổng số tế bào có vào khoảng 70 ngàn tỷ (70 triệu triệu tế bào).
Trong đó tế bào não bộ chiếm 100 tỷ (tế bào thị giác 130 triệu, tế bào khứu giác 200 triệu và tế bào vị giác 750 ngàn).
Trong tổng trọng lượng của cơ thể là 70 kg thì nguyên tố Ôxy chiếm hết 41,1 kg có nghĩa là gấn 60% trọng lượng cơ thể.
Ôxy là nguyên tố vật chất cơ bản của sự sống, ở đâu có Ôxy thì ở đó có năng lượng sống.
Nếu để có 41 kg khí Ôxy nguyên chất trong tầng khí quyển 2 m kể từ mặt đất thì cần phải có vào 4000 km2 mặt đất, tức là tương đương với diện tích thành phố Hà Nội mở rộng bây giờ (3324,92 km2) và gấp đôi diện tích Sài Gòn (2095,1 km2). Có thể hiểu nôm na rằng trong cơ thể của bạn đang tàng trữ một tiềm năng sinh lực của vũ trụ tương đương với tiềm năng bao quanh thành Phố Hà Nội và gấp 2 lần thành phố Sài Gòn. Làm chủ được 41 kg Ôxy luôn luân chuyển trong cơ thể của bạn là làm chủ được năng lực vũ trụ tương đương với năng lực của cả thành phố Hà Nội. Với năng lực vũ trụ đó bạn có thể làm nên những kỳ tích của Tự Nhiên từ cơ thể của bạn. Chỉ có những sinh vật có trí tuệ mới có khả năng làm chủ và vận động được năng lượng sinh tồn đó mà thôi.
Với tổng diện tích bề mặt làm việc của phổi là 80 m2, và khoảng 12-15 hơi thở trong một phút. Mỗi lần thở thì được 500 ml tức là vào khoảng 6-8 lít/1 phút, trong đó có 250 ml Ôxy đi vào và 200 ml khí CO2 trở ra. Trong hơi thở ra có rất nhiều khí thải từ trong cơ thể, Khoa học đo được vào khoảng 250 loại khí thải khác nhau ví dụ như methane hay là khí rượu đậm đặc (khi uống rượu) hay là acetone đậm đặc (khi nhịn ăn)... Cho nên hít thở đúng cách cũng là một phương pháp giải độc rất hữu hiệu.
41 kg gam Ôxy trong cơ thể chiếm 60% trọng lượng của cơ thể cũng có thể hiểu nôm na rằng sẽ có 60% bệnh tật sẽ xảy ra có nguyên nhân từ nguyên tố này, và ngược lại cũng sẽ có ít nhất là 60% các phương pháp trị liệu từ việc thở.
Những bộ môn khoa học nghiên cứu về các hiện tượng huyền bí và năng lực siêu nhiên của con người đều khẳng định: "Chính hơi thở của con người đã làm nên những kỳ tích mà cứ ngỡ là các hiện tượng siêu nhiên".
Làm chủ hơi thở là một phương pháp để làm nên những kỳ tích trên cơ thể của bạn, chứ kỳ tích không có từ đấng siêu nhiên nào ban tặng cho bạn cả.
Thứ Ba, 27 tháng 5, 2014
5 phương pháp Thở
5 phương pháp Thở của Công phu được chia thành như sau:
1- Tự Tức: Là cách thức hô hấp theo khả năng của bẩm thụ tự nhiên. Người có hơi thở ngắn, thì thở ngắn, người có hơi thở dài thì thở dài. Thở một cách bình thường, không có sự khống chế của ý nghĩ hay hay sự tiết chế của ý chí. Nhưng vẫn phải tuân thủ theo cách thở bụng và thở bằng mũi
2- Tưởng Tức: Là cách hô hấp, hít vào thở ra có sự theo dõi của ý chí. Ví dụ hít vào, tâm trí chỉ đạo cần phải hít vào, thở ra, tâm trí kiểm soát sự thở ra. Hay nói cách khác, ý chí và tâm thức cần bám theo hơi thở để an định Tâm, không cho Tâm thức vọng niệm lung tung làm tán khí. Vì lúc kiểm soát hơi thở, tâm thức luân cùng theo hơi thở mà hành ý, nên Ý vững, anh định, thì Khí mới cường thuận được.
3- Hành Tức: Là cách thâu nhiếp hô hấp có sự sắp xếp, tiết chế và điều hành của ý chí. Đây là phương pháp luyện công nhằm mục đích dùng hơi thở dẫn khí đi qua những kinh mạch mà mình cần thông hoạt hay thủ dụng. Bởi vì Bí Kíp của Khí Công là Dùng Mắt Dẫn Ý, Ý Tự Dẫn Khí. Nhờ đó mà Ý đến tức Khí đến, Khí Hành thì Huyết Hoạt (Chân Kinh). Có nghĩa là mắt nhìn đâu, thì Ý đặt ở đó. Ý đặt đâu thì Khí chạy đến đó. Để đạt được những công phu tối thượng, phi thường. Hành Giả các môn Khí Công thượng thừa đều nhờ vào cách thâu nhiếp hô hấp này. Hơi thở hai thì, hơi thở ba thì, hơi thở bốn thì, hơi thở âm công, hơi thở dương công, hơi thở hỏa xà....đều thuộc về cách thâu nhiếp Hành Tức
4- Tiềm Tức: Là hơi thở của Tiềm Thức, nó khác với hơi thở tự nhiên của Tự Tức về cảnh giới an định, nhưng về hình thức thì giống nhau. Đó là hơi thở hàm chứa công phu của Tưởng Tức và Hành Tức, nhưng đã trở thành một phản xạ tự nhiên của cơ thể. Hơi thở không có sự tiết chế của ý thức. Nhưng lại có sự chi phối của Tiềm Thức. Cách thở này còn gọi là Thở Vô Thức. Người có thành tựu Tiềm Tức, thường có hơi thở chậm, và thở rất ít lượng hơi. Và họ có một khả năng khác thường là không chỉ thở bằng mũi mà họ thở bằng Đan Điền và thở bằng Biểu Bì. Có nghĩa là sự thu nạp dưỡng khí và bài tiết trọc khí không cần phải qua phổi và mũi. Đan điền và da tóc của họ cũng có thể thẩm thấu được dưỡng khí cần thiết cho sự sống. Họ là những bậc Phi Phàm
5- Qui Tức: Là hơi thở như giống rùa. Thở rất ít, rất chậm và hầu như ngưng thở. Nhịp tim của họ rất thấp. Và họ có khả năng giả chết lâu dài như chết thật, và họ có khả không cần dưỡng khí trong một thời gian dài, trái với qui luật của tự nhiên. Điều mà làm đau đầu và tốn hết rất nhiều thời gian tranh cãi cho các nhà khoa học. Những người này thường có những quyền năng siêu nhiên. Họ là các bậc Thánh Nhân
Diễn giải theo Kinh Sách cho cạn nghĩa vậy thôi. Chứ bí quyết thành công của Khí Công là ở chỗ: Hít Vào, Thở Ra, Nâng Lên Hạ Xuống, Dang Ra Kéo Về một cách hài hòa, đúng cách là được.
Như thế nào là đúng cách: Là chuyên cần, thường xuyên, tâm, thân, ý, hơi thở hợp nhất thành MỘT là đại cô
1- Tự Tức: Là cách thức hô hấp theo khả năng của bẩm thụ tự nhiên. Người có hơi thở ngắn, thì thở ngắn, người có hơi thở dài thì thở dài. Thở một cách bình thường, không có sự khống chế của ý nghĩ hay hay sự tiết chế của ý chí. Nhưng vẫn phải tuân thủ theo cách thở bụng và thở bằng mũi
2- Tưởng Tức: Là cách hô hấp, hít vào thở ra có sự theo dõi của ý chí. Ví dụ hít vào, tâm trí chỉ đạo cần phải hít vào, thở ra, tâm trí kiểm soát sự thở ra. Hay nói cách khác, ý chí và tâm thức cần bám theo hơi thở để an định Tâm, không cho Tâm thức vọng niệm lung tung làm tán khí. Vì lúc kiểm soát hơi thở, tâm thức luân cùng theo hơi thở mà hành ý, nên Ý vững, anh định, thì Khí mới cường thuận được.
3- Hành Tức: Là cách thâu nhiếp hô hấp có sự sắp xếp, tiết chế và điều hành của ý chí. Đây là phương pháp luyện công nhằm mục đích dùng hơi thở dẫn khí đi qua những kinh mạch mà mình cần thông hoạt hay thủ dụng. Bởi vì Bí Kíp của Khí Công là Dùng Mắt Dẫn Ý, Ý Tự Dẫn Khí. Nhờ đó mà Ý đến tức Khí đến, Khí Hành thì Huyết Hoạt (Chân Kinh). Có nghĩa là mắt nhìn đâu, thì Ý đặt ở đó. Ý đặt đâu thì Khí chạy đến đó. Để đạt được những công phu tối thượng, phi thường. Hành Giả các môn Khí Công thượng thừa đều nhờ vào cách thâu nhiếp hô hấp này. Hơi thở hai thì, hơi thở ba thì, hơi thở bốn thì, hơi thở âm công, hơi thở dương công, hơi thở hỏa xà....đều thuộc về cách thâu nhiếp Hành Tức
4- Tiềm Tức: Là hơi thở của Tiềm Thức, nó khác với hơi thở tự nhiên của Tự Tức về cảnh giới an định, nhưng về hình thức thì giống nhau. Đó là hơi thở hàm chứa công phu của Tưởng Tức và Hành Tức, nhưng đã trở thành một phản xạ tự nhiên của cơ thể. Hơi thở không có sự tiết chế của ý thức. Nhưng lại có sự chi phối của Tiềm Thức. Cách thở này còn gọi là Thở Vô Thức. Người có thành tựu Tiềm Tức, thường có hơi thở chậm, và thở rất ít lượng hơi. Và họ có một khả năng khác thường là không chỉ thở bằng mũi mà họ thở bằng Đan Điền và thở bằng Biểu Bì. Có nghĩa là sự thu nạp dưỡng khí và bài tiết trọc khí không cần phải qua phổi và mũi. Đan điền và da tóc của họ cũng có thể thẩm thấu được dưỡng khí cần thiết cho sự sống. Họ là những bậc Phi Phàm
5- Qui Tức: Là hơi thở như giống rùa. Thở rất ít, rất chậm và hầu như ngưng thở. Nhịp tim của họ rất thấp. Và họ có khả năng giả chết lâu dài như chết thật, và họ có khả không cần dưỡng khí trong một thời gian dài, trái với qui luật của tự nhiên. Điều mà làm đau đầu và tốn hết rất nhiều thời gian tranh cãi cho các nhà khoa học. Những người này thường có những quyền năng siêu nhiên. Họ là các bậc Thánh Nhân
Diễn giải theo Kinh Sách cho cạn nghĩa vậy thôi. Chứ bí quyết thành công của Khí Công là ở chỗ: Hít Vào, Thở Ra, Nâng Lên Hạ Xuống, Dang Ra Kéo Về một cách hài hòa, đúng cách là được.
Như thế nào là đúng cách: Là chuyên cần, thường xuyên, tâm, thân, ý, hơi thở hợp nhất thành MỘT là đại cô
Thứ Ba, 20 tháng 5, 2014
Cách học
"Thầy tôi dạy nghề cho tôi không
giống ai cả. Khi giao cho tôi một cuốn sách, hay một bài học nào đó, lúc
trả bài chỉ được phép gói gọn lại vài câu cốt tủy nhất mà thôi, không
được phép nói quá dài. Nhưng khi Thầy khảo bài, thầy lại ra một chữ, hay
nhiều lắm là 9 chữ, tùy theo nội dung, rồi hỏi tôi chữ đó có thể nói
được bao lâu, thông thường một chữ của Thầy khảo, ít nhất tôi phải giải
thích từ 1 đến 2 tiếng đồng hồ. Có nghĩa là sách, hay là trước tác Y
thuật của tiền nhân để lại, Thầy giao cho tôi đọc, nghiên cứu, làm thế
nào mà thấu ngộ hết nội dung và bắt buộc khi trình bày lại, phải thật
ngắn gọn, nếu câu trả lời không ngắn đến chỗ không thể nào ngắn hơn được
nữa, thì lại phải tiếp tục nghiên cứu tiếp, chứ chưa được nhận ý chỉ
mới. Ngược lại khi Thầy khảo bài thì Thầy chỉ đọc lên một chữ, hay một
câu dăm bảy chữ gì đó, tôi chỉ được phép định tâm suy nghĩ độ năm mười
phút gì đó rồi trả lời là chữ đó tôi có thể lý giải được trong bao lâu.
Nếu tôi nói, tôi giải thích được 30 phút hay 1 tiếng chẳng hạn, Thầy xét
thấy thời gian lý giải quá ngắn, thì không chấp nhận. Bắt phải học lại
đề tài đó, và ra điều kiện phải lý giải trong bao lâu, nếu khi nào có
thể đáp ứng yêu cầu đó, thì mới trình Thầy để tiếp tục khảo luận.
Ví dụ khi học về các tác nhân gây bệnh trong y lý. Thầy giao cho tôi mấy tập sách như Thương hàn Luận, Hình Giản Trân Nhu, Bệnh lý chỉ Lược...Khi trả bài tôi nói một câu: "Nội Nhân Thất Tình, Ngoại Nhân Lục Dục, Bất Nội Bất Ngoại Nhân" (Nguyên nhân từ bên trong do 7 loại tình chí gây ra, nguyên nhân bên ngoài do sáu loại tà khí gây ra, và có những nguyên nhân đặc biệt không do nội, ngoại nhân gây ra). Thầy nói: "Còn quá dài". Tôi nhắm mắt định thần suy nghĩ lại hồi lâu rồi trả lời lại : " Thất Tình, Lục Khí". Thầy lại nói: "Dư một chữ". Tôi lại định thần suy nghĩ, cuối cùng phải đầu hàng: "Thưa Thầy, con chịu". Chịu thì lại phải tiếp tục công phá cả mấy cuốn sách kia để tìm cho được 3 chữ cốt tủy. Mấy tuần sau khi trả bài lại, thấy tôi tủm tỉm cười, Thầy nói: "Ba chữ gì, con nói nghe coi". Tôi nói: "Chính khí suy". Thầy xoa đầu tôi và đi pha trà, không cần tôi phải trình bày thêm một chữ nào nữa hết. Có nghĩa là Thầy hài lòng và chấp nhận khóa học đã kết thúc về phần "đầu vào". Hôm sau đến lượt "đầu ra". Lúc tọa Thiền, Thầy hỏi : "Nộ" (giận dữ). Tôi nhắm mắt định thần suy xét xem cái hiểu biết của nình nói về cái Đệ Nhị Tình Chí trong Thất Tình (hỷ-nộ-ưu-tư-bi-kinh-khủng: Vui-Giận-Buồn-Lo-Nghĩ-Sợ hãi-Khiếp đảm) được bao nhiêu, và có thể lý giải trong bao lâu. Gói ghém tất cả những lý luận về ảnh hưởng của trạng thái giận dữ đến với sức khỏe, nếu giận dữ thái quá thì gây nội thương cho phủ tạng nào trong cơ thể, tình trạng phủ tạng đó bị nội thương có những biểu hiện gì, và triệu chứng ở mạch bộ như thế nào, ở lưỡi như thế nào, ở mắt như thế nào. Nếu bị nội thương do Nộ gây ra, thì dùng phương pháp gì để chữa trị, nếu châm cứu thì thủ những huyệt nào, dùng thuốc thì phương toa nào, liều lượng thảo dược bao nhiêu, và vì sao...Sau khi lướt qua kiến thức, tôi trả lời : " Thưa thầy, khoảng 3 giờ" ( có nghĩa là tôi sẽ trình bày trong 3 tiếng đồng hồ cho cái chữ "Nộ" của Thầy). Thầy gật đầu, có nghĩa là chấp nhận được. Tôi không cần phải trình bày gì cả. Thầy lại tiếp tục hỏi: "Thấp". Tôi lại nhập định để rà soát kiến thức về cái Đệ Tứ Tà Khí trong Lục dâm (phong-hàn-thử-thấp-táo-nhiệt: Gió-Lạnh-Nắng-Ẩm-Khô-Nóng) rồi trả lời :" Dạ 3 ngày và cộng thêm một đời ạ". Thầy mỉm cười biết tôi nắm kỹ được kiến thức. Khi gặp đề tài lớn như thế này, thỉnh thoảng Thầy lại ra đề dài chữ hơn để tôi trình bày. Ví dụ trong đề tài ngắn chữ "Thấp", Thầy ra thêm đề nhiều chữ (càng nhiều chữ càng dễ): "Thấp Nhiệt Nhập Dương Minh" có nghĩa là Thầy chỉ hỏi hạn hẹp trong phạm vi Thấp tà kết hợp với Nhiệt tà thâm nhập vào kinh Dương Minh (Thủ dương minh Đại trường và Túc dương minh Vị kinh), thì gây nên tình trạng gì, cách chữa trị ra sao. Những đầu đề nhiều chữ, là những đầu đề bắt buộc tôi phải lý giải.
Có lần tôi nói đùa rằng. Thầy dạy nghề cho tôi theo kiểu bán buôn lỗ vốn, vì khi khảo đầu vào thì càng ít chữ càng tốt, còn khảo đầu ra thì càng tràng giang đại hải càng hay. Phương pháp tiếp nhận kiến thức kiểu này tôi gọi là phương pháp học cụt vốn (sau này khi làm thơ có ít nhất trên 10 bài tôi sử dụng cái từ "cụt vốn" này). Còn Thầy thì giải thích đó là phương pháp phá công án, như kiểu phá công án trong Thiền. Chỉ có phương pháp này mới thấu ngộ vấn đề triệt để và nhanh nhất mà thôi. Nhưng không phải ai cũng thực hiện được, trừ phi Thầy trò có duyên, như cái duyên tao ngộ giữa tôi và Thầy vậy.
Như cái "Công Án" Kinh mạch huyệt đạo này, Thầy bắt tôi đọc tất cả sách nói về châm cứu, với gợi ý 380 huyệt đạo, thực ra chỉ có 120 huyệt cần dùng, trong 120 huyệt cần dùng, chỉ có 60 huyệt là dùng thường xuyên, trong 60 huyệt dùng thường xuyên, chỉ có 24 huyệt chủ yếu, trong 24 huyệt chủ yếu thì chỉ có 12 huyệt quan trọng, trong 12 huyệt quan trọng thực ra chỉ cần 6 huyệt là trị được bá bệnh, trong 6 huyệt trị được bá bệnh chung qui lại cũng chỉ có một huyệt. Khi nào "chỉ mặt đặt tên" được 24 huyệt chủ yếu, gọi là Hiểu, được 12 huyệt thì gọi là Thông, được 6 huyệt thì gọi là Thấu, chỉ ra được 1 huyệt thì gọi là Ngộ. Tôi biết rằng để "chỉ mặt đặt tên" cái Đệ Nhất Huyệt này, tôi phải ngấu nghiến nghiền ngẫm ít nhất cũng dư chục cuốn sách, và ít nhất cũng hàng năm mới phá nổi cái công án này. Vì vậy tôi không bỏ phí một khoảnh khắc thừa thãi nào, lúc nào cũng úp mặt vào mấy cuốn Châm cứu. Lúc nào thấy tôi ngất ngất, ngơ ngơ như người mất hồn thì Thầy lại dắt tôi "đi dạo".
Những cuộc "đi dạo" của chúng tôi mới thật táng đởm kinh hồn. Cuốc bộ từ Vinh đi Hương sơn, cuốc bộ từ Vinh đi Đô Lương, Nghĩa đàn, Con Cuông. Cuốc bộ từ ga Đò Lèn vượt Tam Điệp đi Ninh Bình, cuốc bộ dọc ngang khắp núi rừng Cẩm Thủy, Bá Thước..Và chuyến cuốc bộ lịch sử, khi Thầy giã từ Vinh để trở về Huế. Trong chuyến cuốc bộ hành hương này, chúng tôi phải vượt qua dãy Hồng Lĩnh, vượt Đèn Ngang, đèo Lý Hòa..để đổ bộ về Đồng Hới bằng đôi chân trần của mình. Sẽ có dịp tôi kể về những chuyến hành hương này. Bởi vì những kiến thức về nghề nghiệp, những hiểu biết về Phật Giáo và những bài học làm người của tôi, thực sự mới được bổ sung và củng cố trong những chuyến hành hương ấy."
Trích blog của thầy Thuận Nghĩa
Ví dụ khi học về các tác nhân gây bệnh trong y lý. Thầy giao cho tôi mấy tập sách như Thương hàn Luận, Hình Giản Trân Nhu, Bệnh lý chỉ Lược...Khi trả bài tôi nói một câu: "Nội Nhân Thất Tình, Ngoại Nhân Lục Dục, Bất Nội Bất Ngoại Nhân" (Nguyên nhân từ bên trong do 7 loại tình chí gây ra, nguyên nhân bên ngoài do sáu loại tà khí gây ra, và có những nguyên nhân đặc biệt không do nội, ngoại nhân gây ra). Thầy nói: "Còn quá dài". Tôi nhắm mắt định thần suy nghĩ lại hồi lâu rồi trả lời lại : " Thất Tình, Lục Khí". Thầy lại nói: "Dư một chữ". Tôi lại định thần suy nghĩ, cuối cùng phải đầu hàng: "Thưa Thầy, con chịu". Chịu thì lại phải tiếp tục công phá cả mấy cuốn sách kia để tìm cho được 3 chữ cốt tủy. Mấy tuần sau khi trả bài lại, thấy tôi tủm tỉm cười, Thầy nói: "Ba chữ gì, con nói nghe coi". Tôi nói: "Chính khí suy". Thầy xoa đầu tôi và đi pha trà, không cần tôi phải trình bày thêm một chữ nào nữa hết. Có nghĩa là Thầy hài lòng và chấp nhận khóa học đã kết thúc về phần "đầu vào". Hôm sau đến lượt "đầu ra". Lúc tọa Thiền, Thầy hỏi : "Nộ" (giận dữ). Tôi nhắm mắt định thần suy xét xem cái hiểu biết của nình nói về cái Đệ Nhị Tình Chí trong Thất Tình (hỷ-nộ-ưu-tư-bi-kinh-khủng: Vui-Giận-Buồn-Lo-Nghĩ-Sợ hãi-Khiếp đảm) được bao nhiêu, và có thể lý giải trong bao lâu. Gói ghém tất cả những lý luận về ảnh hưởng của trạng thái giận dữ đến với sức khỏe, nếu giận dữ thái quá thì gây nội thương cho phủ tạng nào trong cơ thể, tình trạng phủ tạng đó bị nội thương có những biểu hiện gì, và triệu chứng ở mạch bộ như thế nào, ở lưỡi như thế nào, ở mắt như thế nào. Nếu bị nội thương do Nộ gây ra, thì dùng phương pháp gì để chữa trị, nếu châm cứu thì thủ những huyệt nào, dùng thuốc thì phương toa nào, liều lượng thảo dược bao nhiêu, và vì sao...Sau khi lướt qua kiến thức, tôi trả lời : " Thưa thầy, khoảng 3 giờ" ( có nghĩa là tôi sẽ trình bày trong 3 tiếng đồng hồ cho cái chữ "Nộ" của Thầy). Thầy gật đầu, có nghĩa là chấp nhận được. Tôi không cần phải trình bày gì cả. Thầy lại tiếp tục hỏi: "Thấp". Tôi lại nhập định để rà soát kiến thức về cái Đệ Tứ Tà Khí trong Lục dâm (phong-hàn-thử-thấp-táo-nhiệt: Gió-Lạnh-Nắng-Ẩm-Khô-Nóng) rồi trả lời :" Dạ 3 ngày và cộng thêm một đời ạ". Thầy mỉm cười biết tôi nắm kỹ được kiến thức. Khi gặp đề tài lớn như thế này, thỉnh thoảng Thầy lại ra đề dài chữ hơn để tôi trình bày. Ví dụ trong đề tài ngắn chữ "Thấp", Thầy ra thêm đề nhiều chữ (càng nhiều chữ càng dễ): "Thấp Nhiệt Nhập Dương Minh" có nghĩa là Thầy chỉ hỏi hạn hẹp trong phạm vi Thấp tà kết hợp với Nhiệt tà thâm nhập vào kinh Dương Minh (Thủ dương minh Đại trường và Túc dương minh Vị kinh), thì gây nên tình trạng gì, cách chữa trị ra sao. Những đầu đề nhiều chữ, là những đầu đề bắt buộc tôi phải lý giải.
Có lần tôi nói đùa rằng. Thầy dạy nghề cho tôi theo kiểu bán buôn lỗ vốn, vì khi khảo đầu vào thì càng ít chữ càng tốt, còn khảo đầu ra thì càng tràng giang đại hải càng hay. Phương pháp tiếp nhận kiến thức kiểu này tôi gọi là phương pháp học cụt vốn (sau này khi làm thơ có ít nhất trên 10 bài tôi sử dụng cái từ "cụt vốn" này). Còn Thầy thì giải thích đó là phương pháp phá công án, như kiểu phá công án trong Thiền. Chỉ có phương pháp này mới thấu ngộ vấn đề triệt để và nhanh nhất mà thôi. Nhưng không phải ai cũng thực hiện được, trừ phi Thầy trò có duyên, như cái duyên tao ngộ giữa tôi và Thầy vậy.
Như cái "Công Án" Kinh mạch huyệt đạo này, Thầy bắt tôi đọc tất cả sách nói về châm cứu, với gợi ý 380 huyệt đạo, thực ra chỉ có 120 huyệt cần dùng, trong 120 huyệt cần dùng, chỉ có 60 huyệt là dùng thường xuyên, trong 60 huyệt dùng thường xuyên, chỉ có 24 huyệt chủ yếu, trong 24 huyệt chủ yếu thì chỉ có 12 huyệt quan trọng, trong 12 huyệt quan trọng thực ra chỉ cần 6 huyệt là trị được bá bệnh, trong 6 huyệt trị được bá bệnh chung qui lại cũng chỉ có một huyệt. Khi nào "chỉ mặt đặt tên" được 24 huyệt chủ yếu, gọi là Hiểu, được 12 huyệt thì gọi là Thông, được 6 huyệt thì gọi là Thấu, chỉ ra được 1 huyệt thì gọi là Ngộ. Tôi biết rằng để "chỉ mặt đặt tên" cái Đệ Nhất Huyệt này, tôi phải ngấu nghiến nghiền ngẫm ít nhất cũng dư chục cuốn sách, và ít nhất cũng hàng năm mới phá nổi cái công án này. Vì vậy tôi không bỏ phí một khoảnh khắc thừa thãi nào, lúc nào cũng úp mặt vào mấy cuốn Châm cứu. Lúc nào thấy tôi ngất ngất, ngơ ngơ như người mất hồn thì Thầy lại dắt tôi "đi dạo".
Những cuộc "đi dạo" của chúng tôi mới thật táng đởm kinh hồn. Cuốc bộ từ Vinh đi Hương sơn, cuốc bộ từ Vinh đi Đô Lương, Nghĩa đàn, Con Cuông. Cuốc bộ từ ga Đò Lèn vượt Tam Điệp đi Ninh Bình, cuốc bộ dọc ngang khắp núi rừng Cẩm Thủy, Bá Thước..Và chuyến cuốc bộ lịch sử, khi Thầy giã từ Vinh để trở về Huế. Trong chuyến cuốc bộ hành hương này, chúng tôi phải vượt qua dãy Hồng Lĩnh, vượt Đèn Ngang, đèo Lý Hòa..để đổ bộ về Đồng Hới bằng đôi chân trần của mình. Sẽ có dịp tôi kể về những chuyến hành hương này. Bởi vì những kiến thức về nghề nghiệp, những hiểu biết về Phật Giáo và những bài học làm người của tôi, thực sự mới được bổ sung và củng cố trong những chuyến hành hương ấy."
Trích blog của thầy Thuận Nghĩa
THƯỞNG TRÀ
"Trong lĩnh vực trà đạo gồm có 10
đẳng cấp, tương ứng với 10 cảnh giới mà người nghiện trà cần phải thẩm
thấu được. Đó là : "Nhất nước, nhì trà, tam pha, tứ ấm, ngũ hữu, lục
ly, thất qui, bát tọa, cửu tùy, thập không". Có nghĩa là người uống trà
cần phải phân biệt được sự uống, ngon hay dở tùy thuộc vào : Thứ nhất
là nước dùng pha trà. Thứ hai là loại trà. Thứ ba là cách pha. Thứ tư
là ấm để pha trà. Thứ năm là người cùng uống trà. Thứ sáu là ly dùng để
uống trà. Thứ bảy là qui cách uống trà. Thứ tám là cách ngồi uống
trà...
Hai cảnh giới cuối cùng là các cảnh giới thượng thừa của Trà Đạo đó là : "Cửu tùy. Thập không". Cảnh giới "cửu tùy" là cảnh giới thứ chín, người uống trà không còn lệ thuộc vào 8 cảnh giới trước nữa, mà nương tùy theo duyên trà mà cảm thụ được cái sự uống. Cảnh giới "Thập không" tức là cảnh giới thứ mười, uống như không uống, không uống vẫn như đang uống.
Mình nghiện uống trà mạn mộc (trà nguyên, không pha chế, không ướp hương) từ hồi mới mười mấy tuổi. Đến nay đã có gần 4 chục năm trải nghiệm. Và suốt gần 40 năm nay mình không uống một thứ nước gì khác ngoài nước trà. Vậy mà trầm trầy trầm trật mấy chục năm nay mới đạt đến cảnh giới thứ tám. Mặc dầu đã cố gắng hết sức vận rất nhiều năm công phu hàm dưỡng, mà vẫn chưa thấu ngộ được cảnh giới "Tùy" và "Không" ở trong Trà Đạo"
"Trà hôm nay không thơm như mọi khi, chát xốc, không đằm, nhưng màu xanh sánh, và dư vị, ngọt đậm hơn. Vừa nhấc quân cờ khai cuộc tôi vừa hỏi
- Trà xuân à?
- Ừ, trà vườn uống hết rồi, nhà chưa gửi kịp. Mà trà xuân sao lại đắng hơn nhỉ, dù không được nước, nhưng đằm ngọt ở lưỡi lâu hơn
- Vị của lửa là vậy mà. Tôi khề khà bâng quơ.
- Sao lại có chuyện lửa ở đây, sư phụ!
- Lộc trà xuân tàng ẩn Hỏa khí của mùa Hạ, nên chát khắt. Hỏa sinh thổ, nên sau vị chát của Hỏa thì dư vị của ngọt Thổ đằm lâu là đúng rồi, lửa dễ tắt chóng tàn. Trà xuân thâu tàng khí Hỏa nên không được nước là vậy.
- Vậy trà mùa nào uống ngon?
- Lộc trà mùa Thu, thì nồng vị Kim. Chỉ có trà thu hoạch vào mùa đông là chát dịu, hương dậy mà vị rất chung tình, đó là cái đặc điểm của lá trà ngậm khí Thủy, nếu vào dịp sương muối, lộc trà rúm quắt lại, thì uống càng phê.
Bích La Xuân, là loại trà Nhân Hương mà mình có mấy lần đã uống chứ gì. Ngày nay loại trà này nghe nói có cái hãng trà khỉ gió gì đó bên Tàu sáng chế ra một kiểu cách rất điệu nghệ khác. Cũng là trà vùng Động Đình Hồ, bây giờ bọn chúng không còn hái ôm vào ngực như cổ điển nữa mà chúng nó cho con gái còn trinh hái bằng mồm, dùng răng cắn ngắt búp chè, thả vào một cái giỏ tre kẹp giữa hai bầu vú, khi giỏ trà đầy thì đổ vào một bao vải thô, rồi quấn vào vùng bụng dưới, ướp hơi nóng của đan điền gái trinh qua một đêm cho búp trà héo mới đem sao.




- Tớ cũng nghe nói đến trà đó rồi, đang nhờ người đặt mua uống thử xem sao, ông đừng có nói là loại trà này đó nhé
- Đương nhiên là không phải, có đâu ra mà xịn thế- Tôi cười hề hề- Tuy không phải thứ đó, nhưng cũng là loại trà có cách thu hoạch đặc biệt. Loại trà này được hái bằng tay nhưng chỉ khác chun chút là chỉ có phụ nữ mới được hái, và mỗi lần hái được một nhúm vào lòng tay là phải đưa lên môi, hôn vào những cánh trà rồi mới được bỏ vào giỏ, vì vậy trà này mới được gọi là trà my my...hì hì..
- Xạo bà cố- Ba Đen biết tôi đùa nên cười xòa.
- Không xạo đâu, nếu không thế thì sao tao với mày đều có động tác giống hệt nhau khi mới giở gói trà này ra, đều nhẹ nhàng vốc một nhúm và nhẹ nhàng nâng mui đưa lên mũi ngửi he he...
- Ừ thi cứ coi như vậy đi, nhưng thứ trà này của vùng nào đấy
- Toronto- Canada
- Xạo nữa, mà vùng nào cũng kệ, nên giữ lấy nguồn trà này nhé
- Ừ, nhất định sẽ giữ
Cả tôi và Ba Đen đều lim dim mắt đưa tách trà lên môi nhâm nhi. Tôi vừa nhấp vừa tủm tỉm cuời. Ba Đen hỏi:
- Ông cười gì thế?
- Tớ đang nghĩ nên uống loại trà này vào loại ly nào thì hợp, và có nên nâng cấp nó lên thành một kiểu uống riêng, gọi là cách uống trà my my không?
- Nên lắm chứ, để cho người đời biết nhiều khi đặt môi lên một tách trà còn khoái cảm hơn nhiều lần đặt môi lên vòm thủy các của mỹ nhân...

23.05.11
TRÍCH Y SƯ THUẬN NGHĨA
'"
Hai cảnh giới cuối cùng là các cảnh giới thượng thừa của Trà Đạo đó là : "Cửu tùy. Thập không". Cảnh giới "cửu tùy" là cảnh giới thứ chín, người uống trà không còn lệ thuộc vào 8 cảnh giới trước nữa, mà nương tùy theo duyên trà mà cảm thụ được cái sự uống. Cảnh giới "Thập không" tức là cảnh giới thứ mười, uống như không uống, không uống vẫn như đang uống.
Mình nghiện uống trà mạn mộc (trà nguyên, không pha chế, không ướp hương) từ hồi mới mười mấy tuổi. Đến nay đã có gần 4 chục năm trải nghiệm. Và suốt gần 40 năm nay mình không uống một thứ nước gì khác ngoài nước trà. Vậy mà trầm trầy trầm trật mấy chục năm nay mới đạt đến cảnh giới thứ tám. Mặc dầu đã cố gắng hết sức vận rất nhiều năm công phu hàm dưỡng, mà vẫn chưa thấu ngộ được cảnh giới "Tùy" và "Không" ở trong Trà Đạo"
"Trà hôm nay không thơm như mọi khi, chát xốc, không đằm, nhưng màu xanh sánh, và dư vị, ngọt đậm hơn. Vừa nhấc quân cờ khai cuộc tôi vừa hỏi
- Trà xuân à?
- Ừ, trà vườn uống hết rồi, nhà chưa gửi kịp. Mà trà xuân sao lại đắng hơn nhỉ, dù không được nước, nhưng đằm ngọt ở lưỡi lâu hơn
- Vị của lửa là vậy mà. Tôi khề khà bâng quơ.
- Sao lại có chuyện lửa ở đây, sư phụ!
- Lộc trà xuân tàng ẩn Hỏa khí của mùa Hạ, nên chát khắt. Hỏa sinh thổ, nên sau vị chát của Hỏa thì dư vị của ngọt Thổ đằm lâu là đúng rồi, lửa dễ tắt chóng tàn. Trà xuân thâu tàng khí Hỏa nên không được nước là vậy.
- Vậy trà mùa nào uống ngon?
- Lộc trà mùa Thu, thì nồng vị Kim. Chỉ có trà thu hoạch vào mùa đông là chát dịu, hương dậy mà vị rất chung tình, đó là cái đặc điểm của lá trà ngậm khí Thủy, nếu vào dịp sương muối, lộc trà rúm quắt lại, thì uống càng phê.
Bích La Xuân, là loại trà Nhân Hương mà mình có mấy lần đã uống chứ gì. Ngày nay loại trà này nghe nói có cái hãng trà khỉ gió gì đó bên Tàu sáng chế ra một kiểu cách rất điệu nghệ khác. Cũng là trà vùng Động Đình Hồ, bây giờ bọn chúng không còn hái ôm vào ngực như cổ điển nữa mà chúng nó cho con gái còn trinh hái bằng mồm, dùng răng cắn ngắt búp chè, thả vào một cái giỏ tre kẹp giữa hai bầu vú, khi giỏ trà đầy thì đổ vào một bao vải thô, rồi quấn vào vùng bụng dưới, ướp hơi nóng của đan điền gái trinh qua một đêm cho búp trà héo mới đem sao.
- Tớ cũng nghe nói đến trà đó rồi, đang nhờ người đặt mua uống thử xem sao, ông đừng có nói là loại trà này đó nhé
- Đương nhiên là không phải, có đâu ra mà xịn thế- Tôi cười hề hề- Tuy không phải thứ đó, nhưng cũng là loại trà có cách thu hoạch đặc biệt. Loại trà này được hái bằng tay nhưng chỉ khác chun chút là chỉ có phụ nữ mới được hái, và mỗi lần hái được một nhúm vào lòng tay là phải đưa lên môi, hôn vào những cánh trà rồi mới được bỏ vào giỏ, vì vậy trà này mới được gọi là trà my my...hì hì..
- Xạo bà cố- Ba Đen biết tôi đùa nên cười xòa.
- Không xạo đâu, nếu không thế thì sao tao với mày đều có động tác giống hệt nhau khi mới giở gói trà này ra, đều nhẹ nhàng vốc một nhúm và nhẹ nhàng nâng mui đưa lên mũi ngửi he he...
- Ừ thi cứ coi như vậy đi, nhưng thứ trà này của vùng nào đấy
- Toronto- Canada
- Xạo nữa, mà vùng nào cũng kệ, nên giữ lấy nguồn trà này nhé
- Ừ, nhất định sẽ giữ
Cả tôi và Ba Đen đều lim dim mắt đưa tách trà lên môi nhâm nhi. Tôi vừa nhấp vừa tủm tỉm cuời. Ba Đen hỏi:
- Ông cười gì thế?
- Tớ đang nghĩ nên uống loại trà này vào loại ly nào thì hợp, và có nên nâng cấp nó lên thành một kiểu uống riêng, gọi là cách uống trà my my không?
- Nên lắm chứ, để cho người đời biết nhiều khi đặt môi lên một tách trà còn khoái cảm hơn nhiều lần đặt môi lên vòm thủy các của mỹ nhân...
23.05.11
TRÍCH Y SƯ THUẬN NGHĨA
'"
Tai ù
Bệnh về tai : như ù tai (Tinitus), viêm
tai giữa(Mitteohrenzündung), lãng tai v..v..So sánh với bảng Lục tự qui
nạp vào cơ thể thì Tai ứng với Chữ SUY trong lục tự quyết, vì vậy chọn
chữ SUY làm tâm điểm cho quá trình tập luyện. Khi đã biết chữ SUY là Tự
quyết trung tâm thì nên chọn vòng Lục tự tương sinh Vọng Nguyệt Tàng
Nguyên để luyện là tốt nhất, vòng lục tự tương sinh này thời gian thích
ứng cho thực hành là vào buổi tối như đã trình bày ở trên.
Quá trình thực hành tiết tự như sau:
Buổi tối, sau khi tắm gội sạch sẽ, áo quần rộng rãi thoải mái, tìm nơi
yên tĩnh, chọn tư thế ngồi thích hợp thả lỏng toàn thân, hai mắt nhắm
hờ, cổ ngay, lưng thẳng. Hít vào từ từ bằng mũi, đồng thời bụng hơi
phình ra, đặt sự chú ý lên đỉnh đầu để tạo cảm giác như có một luồng
thanh khí đi vào từ đây chứ không phải đi vào bằng mũi, hơi vào vừa đủ,
miệng chuẩn bị tư thế để phát âm chữ SUY, đồng thời ép bụng để tiết hơi
ra miệng, tư tưởng và sự chú ý hoàn toàn tập trung vào chữ SUY, hơi thở
được đẩy ra từ từ qua cấu trúc chữ SUY của vòm miệng ra ngoài, tư tưởng
suy nghĩ đang phát ra chữ SUY nhưng chỉ tồn tại trong Tiềm thức, chứ âm
hưởng không thực sự có thật. (Âm tự tồn tại và được phát ra trong tâm
thức chính là ở dạng tàng ẩn bên trong, cho nên mang tải sức chấn động
của Nội khí rất lớn).
Tiếp tục hơi thở vào như trước, rồi lần
lượt tiết tự chữ SUY theo nhịp thở như thường lệ, sau khi tiết tự chữ
SUY đủ 6 lần thì tiếp nối hơi thở để tiết tự chữ HU. Thứ tự lần lượt chữ
SUY 6 lần, HU 6 lần, chữ HƯ 6 lần, chữ HA 6 lần, chữ HÔ 6 lần, chữ HI 6
lần . Đến đây là kết thúc vòng 1 tức là vòng khởi động, không được dừng
lại làm gián đoạn nhịp thở mà phải liên tục tiếp nối nhịp thở tiết tự
của vòng 2.
Lại hít vào bằng mũi, tư tưởng tập trung
lên đỉnh đầu…..Thở ra, kèm theo việc tiết tự chữ SUY, vì chữ SUY là chữ
trung tâm đã chọn cho liệu pháp trị bệnh về Tai. Chữ SUY được thực hành
tiết tự 18 lần liên tục, đến đây là kết thúc vòng 2 tức là vòng hoạt
hóa, cũng có nghĩa là vòng chủ chốt để trị bệnh.
Tiếp tục nhịp thở tiết tự của vòng 3,
lại bắt đầu từ chữ SUY, nhưng mỗi tự quyết thực hiện đến 12 lần theo thứ
tự sau: chữ SUY 12 lần, chữ HU 12 lần, chữ HƯ 12 lần, chữ HA 12 lần,
chữ HÔ 12 lần, HI 12 lần. Đến đây là kết thúc một buổi thực hành tiết
tự.
Vì điều kiện thời gian bó buộc không thể
luyện tập vào buổi tối để thực hành vòng lục tự tương sinh Vọng nguyệt
tàng nguyên ( là vòng Tự quyết để trị bệnh về Tai thích hợp nhất), thì
chọn thời gian khác, với vòng Lục tự khác vẫn đạt được hiệu quả tốt. Nếu
thời gian luyện tập vào buổi sáng thì như đã trình bày ở trên, chọn
vòng lục tự Nhật khởi-Đông khai và trình tự luyện tập như sau: Chữ HƯ 6
lần, chữ HA 6 lần, chữ HÔ 6 lần, chữ HI 6 lần, chữ SUY 6 lần, chữ HU 6
lần, chữ SUY 18 lần, chữ HƯ 12 lần, chữ HA 12 lần, chữ HÔ 12 lần, chữ HI
12 lần, chữ SUY 12 lần, chữ HU 12 lần.
Nếu thời gian luyện tập vào xế trưa thì
chọn vòng Ngũ trung đại hóa, trình tự luyện tập như sau: Chữ HÔ 6 lần,
chữ HI 6 lần, chữ SUY 6 lần, chữ HU 6 lần, chữ HƯ 6 lần, chữ HA 6 lần,
chữ SUY 18 lần, chữ HÔ 12 lần, chữ HI à 12 lần, chữ SUY 12 lần, chữ HU
12 lần, chữ HƯ 12 lần, chữ HA 12 lần.
Sưu Tầm Và Biên Soạn
Quảng Nhẫn Lê Thuận Nghĩa
Quảng Nhẫn Lê Thuận Nghĩa
Bệnh về mắt
Bệnh Về Mắt:
Bạn đang bị bệnh về mắt, đã qua nhiều liệu trình điều trị, mà chưa có kết quả khả quan. Xin bạn hảy bớt chút thời gian, mỗi ngày chỉ cần độ 30 phút dành cho việc luyện tập LTKC, đảm bảo với bạn sau 2 tuần Mắt bạn sẽ có chuyển biến tốt. Sau 1 tháng đến 40 ngày, chắc chắn kết quả sẽ làm cho bạn rất hài lòng.
Bạn vào trang 4 trong Blog của tôi, ở category : Chung sẽ tìm thấy 3 chương viết về cách luyện tập Lục Tự Khí Công. Bạn đọc và nghiên cứu trước sau đó làm theo hướng dẫn sau:
Chữa Bệnh Về Mắt Bằng Lục Tự Quyết:
Chữa trị các bệnh về mắt như Cận thị, Viễn thị, Loạn thị, Mù màu, Thoái hóa võng mạc, Viêm hoàng điểm v..v..So sánh với bảng Lục tự qui nạp vào cơ thể thì Mắt ứng với Chữ HƯ trong lục tự quyết, vì vậy chọn chữ HƯ làm tâm điểm cho quá trình tập luyện. Khi đã biết chữ HƯ là Tự quyết trung tâm thì nên chọn vòng Lục tự tương sinh Nhật Khởi Đông Khai để luyện là tốt nhất, vòng lục tự tương sinh này thời gian thích ứng cho thực hành là vào buổi sáng. Quá trình thực hành tiết tự như sau:
Buổi sáng, sau khi vệ sinh cá nhân sạch sẽ, áo quần rộng rãi thoải mái, tìm nơi yên tĩnh, chọn tư thế ngồi thích hợp thả lỏng toàn thân, hai mắt nhắm hờ, cổ ngay, lưng thẳng. Hít vào từ từ bằng mũi, đồng thời bụng hơi phình ra, đặt sự chú ý lên đỉnh đầu để tạo cảm giác như có một luồng thanh khí đi vào từ đây chứ không phải đi vào bằng mũi, hơi vào vừa đủ, miệng chuẩn bị tư thế để phát âm chữ HƯ(xem cách phát âm ở phần Lục Tự Khí Công), đồng thời ép bụng để tiết hơi ra miệng, tư tưởng và sự chú ý hoàn toàn tập trung vào chữ HƯ, hơi thở được đẩy ra từ từ qua cấu trúc chữ HƯ của vòm miệng ra ngoài, tư tưởng suy nghĩ đang phát ra chữ HƯ nhưng chỉ tồn tại trong Tiềm thức, chứ âm hưởng không thực sự có thật. (Âm tự tồn tại và được phát ra trong tâm thức chính là ở dạng tàng ẩn bên trong, cho nên mang tải sức chấn động của Nội khí rất lớn) .Tiếp tục hơi thở vào như trước, rồi lần lượt tiết tự các Tự Quyết tiếp, theo nhịp thở như thường lệ, sau khi tiết tự chữ HƯ đủ 6 lần thì tiếp nối hơi thở để tiết tự chữ HA. Thứ tự lần lượt chữ HƯ 6 lần ,chữ HA 6 lầnà chữ HÔ 6 lần à chữ HI 6 lần à chữ SUY 6 lần à chữ HU 6 lần . Đến đây là kết thúc vòng 1 tức là vòng khởi động, không được dừng lại làm gián đoạn nhịp thở mà phải liên tục tiếp nối nhịp thở tiết tự của vòng 2. Lại hít vào bằng mũi, tư tưởng tập trung lên đỉnh đầu.....Thở ra, kèm theo việc tiết tự chữ HƯ, vì chữ HƯ là chữ trung tâm đã chọn cho liệu pháp trị bệnh về Mắt. Chữ HƯ được thực hành tiết tự 18 lần liên tục, đến đây là kết thúc vòng 2 tức là vòng hoạt hóa, cũng có nghĩa là vòng chủ chốt để trị bệnh. Tiếp tục nhịp thở tiết tự của vòng 3, lại bắt đầu từ chữ HƯ, nhưng mỗi tự quyết thực hiện đến 12 lần theo thứ tự sau: chữ HƯ 12 lầnà chữ HA 12 lần à chữ HÔ 12 lần àchữ HI 12 lần à chữ SUY 12 lần à HU 12 lần. Đến đây là kết thúc một buổi thực hành tiết tự.
Tóm lại quá trình luyện tập cho một lần vòng lục tự Nhật khởi-Đông khai để trị bệnh, bằng 126 hơi thở tiết tự như sau : Chữ HƯ 6 lầnàchữ HA 6 lầnàchữ HÔ 6 lầnàchữ HI 6 lầnàchữ SUY 6 lầnàchữ HU 6 lần è chữ HƯ 18 lần è chữ HƯ 12 lầnà chữ HA 12 lần à chữ HÔ 12 lần à chữ HI 12 lần à chữ SUY 12 lầnà chữ HU 12 lần. Hết
Đồng thời với việc luyện tập vòng Nhật Khởi Đông Khai. Bạn nên hàng ngày uống thêm Trà Kỷ Tử nữa thì càng tốt. Hạt Câu Kỷ Tử ở bất kỳ tiệm thuốc Bắc nào cũng có bán. Bạn cho khoảng 2 thìa canh đầy hạt Câu Kỷ Tử vào một bình thủy, rồi đổ vào khoảng 1 lít nước sôi. Uống trong ngày như uống nước giải khát.
Thực hiện đúng liệu trình này bảo đảm sau một thời gian 1 tháng mắt bạn sẽ tốt lên. Sau khoảng 4 đến 6 tháng thực hành LTKC. Chắc chắn cái kiếng dày như đít chai của Bạn chỉ còn là một kỷ vật.
Chúc bạn thành công.
Bạn đang bị bệnh về mắt, đã qua nhiều liệu trình điều trị, mà chưa có kết quả khả quan. Xin bạn hảy bớt chút thời gian, mỗi ngày chỉ cần độ 30 phút dành cho việc luyện tập LTKC, đảm bảo với bạn sau 2 tuần Mắt bạn sẽ có chuyển biến tốt. Sau 1 tháng đến 40 ngày, chắc chắn kết quả sẽ làm cho bạn rất hài lòng.
Bạn vào trang 4 trong Blog của tôi, ở category : Chung sẽ tìm thấy 3 chương viết về cách luyện tập Lục Tự Khí Công. Bạn đọc và nghiên cứu trước sau đó làm theo hướng dẫn sau:
Chữa Bệnh Về Mắt Bằng Lục Tự Quyết:
Chữa trị các bệnh về mắt như Cận thị, Viễn thị, Loạn thị, Mù màu, Thoái hóa võng mạc, Viêm hoàng điểm v..v..So sánh với bảng Lục tự qui nạp vào cơ thể thì Mắt ứng với Chữ HƯ trong lục tự quyết, vì vậy chọn chữ HƯ làm tâm điểm cho quá trình tập luyện. Khi đã biết chữ HƯ là Tự quyết trung tâm thì nên chọn vòng Lục tự tương sinh Nhật Khởi Đông Khai để luyện là tốt nhất, vòng lục tự tương sinh này thời gian thích ứng cho thực hành là vào buổi sáng. Quá trình thực hành tiết tự như sau:
Buổi sáng, sau khi vệ sinh cá nhân sạch sẽ, áo quần rộng rãi thoải mái, tìm nơi yên tĩnh, chọn tư thế ngồi thích hợp thả lỏng toàn thân, hai mắt nhắm hờ, cổ ngay, lưng thẳng. Hít vào từ từ bằng mũi, đồng thời bụng hơi phình ra, đặt sự chú ý lên đỉnh đầu để tạo cảm giác như có một luồng thanh khí đi vào từ đây chứ không phải đi vào bằng mũi, hơi vào vừa đủ, miệng chuẩn bị tư thế để phát âm chữ HƯ(xem cách phát âm ở phần Lục Tự Khí Công), đồng thời ép bụng để tiết hơi ra miệng, tư tưởng và sự chú ý hoàn toàn tập trung vào chữ HƯ, hơi thở được đẩy ra từ từ qua cấu trúc chữ HƯ của vòm miệng ra ngoài, tư tưởng suy nghĩ đang phát ra chữ HƯ nhưng chỉ tồn tại trong Tiềm thức, chứ âm hưởng không thực sự có thật. (Âm tự tồn tại và được phát ra trong tâm thức chính là ở dạng tàng ẩn bên trong, cho nên mang tải sức chấn động của Nội khí rất lớn) .Tiếp tục hơi thở vào như trước, rồi lần lượt tiết tự các Tự Quyết tiếp, theo nhịp thở như thường lệ, sau khi tiết tự chữ HƯ đủ 6 lần thì tiếp nối hơi thở để tiết tự chữ HA. Thứ tự lần lượt chữ HƯ 6 lần ,chữ HA 6 lầnà chữ HÔ 6 lần à chữ HI 6 lần à chữ SUY 6 lần à chữ HU 6 lần . Đến đây là kết thúc vòng 1 tức là vòng khởi động, không được dừng lại làm gián đoạn nhịp thở mà phải liên tục tiếp nối nhịp thở tiết tự của vòng 2. Lại hít vào bằng mũi, tư tưởng tập trung lên đỉnh đầu.....Thở ra, kèm theo việc tiết tự chữ HƯ, vì chữ HƯ là chữ trung tâm đã chọn cho liệu pháp trị bệnh về Mắt. Chữ HƯ được thực hành tiết tự 18 lần liên tục, đến đây là kết thúc vòng 2 tức là vòng hoạt hóa, cũng có nghĩa là vòng chủ chốt để trị bệnh. Tiếp tục nhịp thở tiết tự của vòng 3, lại bắt đầu từ chữ HƯ, nhưng mỗi tự quyết thực hiện đến 12 lần theo thứ tự sau: chữ HƯ 12 lầnà chữ HA 12 lần à chữ HÔ 12 lần àchữ HI 12 lần à chữ SUY 12 lần à HU 12 lần. Đến đây là kết thúc một buổi thực hành tiết tự.
Tóm lại quá trình luyện tập cho một lần vòng lục tự Nhật khởi-Đông khai để trị bệnh, bằng 126 hơi thở tiết tự như sau : Chữ HƯ 6 lầnàchữ HA 6 lầnàchữ HÔ 6 lầnàchữ HI 6 lầnàchữ SUY 6 lầnàchữ HU 6 lần è chữ HƯ 18 lần è chữ HƯ 12 lầnà chữ HA 12 lần à chữ HÔ 12 lần à chữ HI 12 lần à chữ SUY 12 lầnà chữ HU 12 lần. Hết
Đồng thời với việc luyện tập vòng Nhật Khởi Đông Khai. Bạn nên hàng ngày uống thêm Trà Kỷ Tử nữa thì càng tốt. Hạt Câu Kỷ Tử ở bất kỳ tiệm thuốc Bắc nào cũng có bán. Bạn cho khoảng 2 thìa canh đầy hạt Câu Kỷ Tử vào một bình thủy, rồi đổ vào khoảng 1 lít nước sôi. Uống trong ngày như uống nước giải khát.
Thực hiện đúng liệu trình này bảo đảm sau một thời gian 1 tháng mắt bạn sẽ tốt lên. Sau khoảng 4 đến 6 tháng thực hành LTKC. Chắc chắn cái kiếng dày như đít chai của Bạn chỉ còn là một kỷ vật.
Chúc bạn thành công.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)